
Đình Xuân Hội
- Lịch sử hình thành
Đình làng Xuân Hội vốn được xây dựng lớn vào khoảng thế kỷ XVII với quy mô khá lớn. Phía trước là sân rộng, hai bên có hai dải vũ, mỗi dãy bốn gian rồi đến đại đình có bình đồ hình chữ Đinh. Sau đại bái là ba gian hậu cung có sàn gỗ, trong đặt kiệu rước, khám thờ, chấp kích… Hai bên sườn hậu cung khá rộng để cho mười hai vị quan đám nằm nghỉ ngơi trong những ngày hội làng.
Bên cạnh công trình kiến trúc cổ, đình làng Xuân Hội còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử văn hóa quan trọng có ý nghĩa và ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống nhân dân địa phương. Trước Cách mạng tháng Tám, đình là một trong những điểm quan trọng để cán bộ cách mạng và du kích dùng làm trụ sở qua lại hoạt động, tuyên truyền cách mạng và phong trào Việt Minh.
Đến năm 1950 thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, hầu hết các công trình tín ngưỡng văn hóa của làng bị hạ dải. Khi ấy, đình Xuân Hội chỉ còn hai dãy dải vũ , về sau được dùng làm nhà kho hợp tác xã và trường học cho con em trong vùng, còn khu vực đình hậu đến năm 1958 thì xây nhà văn hóa của làng. Việc thờ cúng thành hoàng làng trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ được chuyển về nhà thờ Tổ của chùa Phúc Nguyện.
Năm 1992, việc thờ phụng thành hoàng được chuyển về nhà văn hóa của làng xây trên nền đất cũ của đình hậu.
Năm 1993, Hậu cung và hai dãy dải vũ được phục dựng.
Năm 1998, đình đã được phục dựng lại khá đầy đủ các công trình, bao gồm: đại đình, dải vũ, nghi môn, sân vườn… đồng thời phục hồi những truyền thống văn hóa như: lễ hội cổ truyền, tục kết nghĩa giao hải…
Năm 2020 đình được tu bổ lại như dáng vẻ hiện nay
Đình làng được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá, Quyết định số 289/QĐ-UBND, ngày 28/02/2007.
- Cảnh quan môi trường, đất đai.
Đình Xuân Hội hiện tọa lạc trên thửa đất có diện tích 1373m2, đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng. Đình ở vị trí phía giữa làng, mặt quay về hướng Nam, phía trước là hồ nước, hai bên là đường đi, phía sau là khu dân cư đông đúc. Khuôn viên đình được trồng và bày nhiều chậu cây cảnh được tạo ở các thế đẹp mắt cùng những bồn hoa, non bộ tạo không gian yên tĩnh, thanh tao.
- Các công trình kiến trúc.
Hiện tại đình làng Xuân Hội gồm các công trình kiến trúc: Cổng nghi môn, hai dãy dải vũ và đại đình.
Nghi môn: được xây dựng ở phía sau, liền với đường giao thông. Gồm bốn cột trụ lồng đèn với hai cửa vòm nhỏ, hai bên trên đắp hoa văn dây triện, trên hai cột giữa đắp trái dành, tứ linh hai mặt đều đắp câu đối. Hai cột trụ nhỏ bên ngoài đắp đôi sấu chầu, tứ quý cùng đôi câu đối ở mặt ngoài thân cột.
Hai dãy dải vũ: nằm ở hai bên sân, mỗi dãy gồm bốn gian. Đây là nơi để chứa đồ đạc cũng như dùng cho việc chuẩn bị đồ lễ trong những ngày sự lệ của làng. Hiện tại, trong nhà tả vu còn đặt một bia đá khắc chữ Hán, vốn là bia của văn chỉ được khắc khoảng giữa thế kỷ XIX, một mặt đã mờ chữ, mặt kia nội dung khắc địa danh những khu ruộng tế điền.
Nhà Đại đình có bình đồ hình chữ Đinh, gồm đại bái và hậu cung. Tòa đại bái có năm gian hai chái, bốn mái đao cong. Toàn bộ năm gian giữa của đại bái đều mở cửa bức bàn, với bốn cánh thượng song hạ bản ở gian giữa, hai gian bên là cửa ván bưng, mặt trước hai gian hồi trang trí cửa chữ triện hình tròn. Bộ vì có kết cấu kiểu “tiền kẻ hậu bảy con chồng giá chiêng” bằng gỗ xoan, được liên kết bởi bốn hàng cột dọc và sáu hàng cột ngang. Trang trí kiến trúc chủ yếu tập trung trên những đầu bảy, đầu dư, con chồng bằng những họa tiết mây lá cách điệu, đầu rồng...
Hậu cung gồm 2 gian, phía ngoài có gắn bức cửa võng chạm khắc tứ linh, tứ quý. Trên hương án đặt ba bộ long ngai cùng đỉnh đồng, bát hương đẳng thờ nậm rượu... Phía dưới là mộ long đình chạm khắc tứ linh, tứ quý.
- Nhân vật được thờ
Căn cứ vào nội dung bản ngọc phả còn lưu giữ cùng như truyền thống của địa phương, đình làng Xuân Hội là nơi tôn thờ ba vị thành hoàng: Nhân thần Quảng Phúc Đại pháp sư và hai vị thiên thần là phụ quốc công thần triều Lý.
- Về Quảng Phúc Đại Pháp sư: Ngài là vị y sư huyền ba rất giỏi về y thuật, đã có tâm đức bốc thuốc cứu người và chữa khỏi bệnh cho Mẫu hậu nên nhà vua đã ban thưởng và sắc phong làm thành hoàng làng. Sắc phong là: “Hiển ứng huyền ba, Quảng phúc đại pháp sư Tiên Du địch triết Phổ huệ hoằng nhân, Hậu trạch đại vương càn khôn dựng tú, Quang nhạc trừ tinh, Pháp lực vô biên Thần linh mạc trắc ân phù quốc tộ ư thái bàn”.
- Về hai vị thiên thần là Đương cảnh thành hoàng Linh thông cảm ứng đại vương và Đương cảnh thành hoàng Bảo an chính trực đại vương:
Vào triều Lý, khoảng năm Càn Phù (1039) bỗng có giặc Chiêm nổi lên, dự trữ lương thực sang xâm lấn biên giới nước ta, thư báo gấp, Vua lo lắng, bèn vội vã đem quân tiến thẳng đến đồn giặc đánh một trận lớn. Giữa lúc giao chiến chưa phân thắng bại, Vua bèn dừng lại ở đất Hoa Cối, trang Hộ Vệ, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc và đóng quân tại đó rồi chiêu thêm những người tài nghệ để làm chân tay. Qua một tháng vua lại tiến quân đánh được một trận thì bỗng xe rồng dừng lại không tiến được nữa. Lúc ấy bỗng nhiên trời đất tối tăm, mưa gió nổi lên, mây đen kéo đến đầy trời tối mịt như đêm. Vua lấy làm lạ, truyền cho lập đàn để cầu trời đất núi sông, may ra được âm phù trợ giúp. Cầu đảo ba ngày, mới được nửa thời gian nhìn lên thì thấy hai đám lửa rực sáng, một từ phương Bắc và một từ phương Nam lao thẳng tới đàn cầu, lóa cả mắt, vua lấy làm lạ, cho đó là linh ứng, lập tức truyền cho dân bản khu chọn một cụ già kính cẩn hương cúng.
Sau đó Vua lại sa giá tiến quân đến thẳng đồn giặc, đánh một trận lớn. Đang đánh thì bỗng thấy trời đất tự nhiên mưa như trút, sấm sét ầm ầm. Quân giặc thấy vậy, cho là trời đã giúp nhà Lý. Kẻ nào kẻ nấy đều khiếp sợ tán loạn chạy về nước. Quân không phải mệt mà không đánh giặc mà là giặc tự bị dẹp. Sau khi dẹp xong giặc, vua cho quân về chỗ lập đàn thờ của bản trang mở yến tiệc làm lễ tế thần, ban thưởng tướng sĩ. Vua triệu tập dân hỏi tên làng để ban cấp sắc phong, cho dân thờ phụng vị phúc thần mãi mãi. Vua còn cấp cho dân ba mươi quan tiền để dùng vào việc đèn hương. Vua phong mỹ tự “Vạn cổ huyết thực, dữ quốc đồng hưu” dài lâu, mãi mãi tốt đẹp!
Vua phong cho một vị là “Đương cảnh thành hoàng, linh thông cảm ứng (tặng hiệu là Đống Đinh Trù) thượng đẳng thần đại vương”.
Vua phong cho vị nữa là “Đương cảnh thành hoàng, bảo an chính trực (tặng hiệu Đống Tranh) thượng đẳng thần đại vương.
Cho phép nhân dân Hoa Cối, trang Hộ Vệ, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn là chính sở trông coi, đèn hương thờ phụng.
Sau đó, đến năm 1251, đời Vua Trần Thánh Tông, nhân dân đói khổ, chịu thiên tai, lụt lội, xảy ra nhiều trộm cắp. Vua sai sứ thần đi tuần làm tế lễ cầu đảo. Khi đi qua trang nhà (tứ xứ Đông Kỳ), sứ thần đã lưu lại và làm lễ. Chỉ trong phút chốc, trời mưa tầm tã, nước tràn ngập, dân chúng đều vui vẻ thỏa lòng, đội ơn công thánh, nhớ ơn đức vua. Sứ thần thấy linh thiêng bèn làm lễ tạ nơi linh miếu, rồi về tâu với đức vua. Vua nghe xong, lập tức lệnh cho tu sửa miếu, cấp 70 quan tiền để làm công quỹ tế xuân, tế thu, ban sắc phong cho hai vị là:
Đương Cảnh thành hoàng linh thông cảm ứng khang tế thượng đẳng thần tối linh đại vương.
Đương cảnh thành hoàng bảo an chính trực uy hiển thượng đẳng tối linh đại vương.
- Các hiện vật tiêu biểu.
03 bộ long ngai bằng gỗ thế kỷ XX
03 bài vị bằng gỗ thế kỷ XX
01 bộ bát biểu gỗ thế kỷ XX
01 án gian gỗ thế kỷ XX
01 đôi hạc thờ gỗ thế kỷ XX
01 quán tẩy gỗ thế kỷ XX
02 bộ đỉnh đồng ngũ sự thế kỷ XX
04 bát hương sứ thế kỷ XX
01 giá văn gỗ thế kỷ XX
01 trống, 01 chiêng thế kỷ XX
06 hoành phi thế kỷ XX
04 đôi câu đối thế kỷ XX
- Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích
Ngày 10 tháng 2: Lễ hội truyền thống
Ngày 27 tháng 3: tế vị phúc thần họ Đặng
Theo các cụ trong làng cho biết, để phục vụ việc làng cũng như thờ thần thì từ xưa, thôn Xuân Hội đã lập thành bốn giáp: giáp Đông Thượng, giáp Đông Nam, giáp Đoài Nam và giáp Đoài Bắc. Các giáp này có trách nhiệm cử các vị quan đám và tế chủ để phục vụ việc làng. Trong năm, việc tế lễ của các giáp cũng được quy định chặt chẽ, cụ thể là:
Ngày mồng Một Tết vị tế chủ của giáp Đoài Bắc được cử làm tế chủ.
Ngày mồng Chín tháng Hai (ngày rước hội) vị tế chủ của giáp Đông Nam được cử làm tế chủ.
Ngày mồng Mười tháng Hai (ngày chính hội) vị tế chủ của giáp Đoài Nam được cử làm tế chủ.
Ngày mười một tháng Hai (ngày giã đám) vị tế chủ của giáp Đông Thượng được cử làm tế chủ.
Lễ hội cổ truyền được diễn ra với tục rước hội ngày 09 tháng 2 và tế lễ ngày 10 tháng 2, cùng với các tiết mục văn nghệ, trò chơi dân gian như: hát quan họ, hát chèo, diễn tuồng, vật, chọi gà, cờ người đã thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng làng xã nơi đây.
- Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích
Đình làng Xuân Hội là công trình tín ngưỡng văn hóa quan trọng của nhân dân địa phương được các tầng lớp nhân dân quan tâm xây dựng, bảo vệ. Hiện tại, đất đai của di tích được hoạch định kè đá kiên cố và xây tường xung quanh, phía ngoài khuôn viên là đường làng và hồ nước lớn tạo cảnh quan thiên nhiên thoáng mát.
Công tác đảm bảo an ninh cho di tích cũng được chú trọng, chính quyền, mặt trận và hội người cao tuổi của làng đã cử cụ Từ thường xuyên trông nom tại đình. Di tích đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các khu vực tiếp giáp đường đi đều đã xây dựng tường bao và gắn cổng bảo vệ, hệ thống cửa sổ, cửa chính được lắp đặt then khóa cẩn thận đảm bảo việc gìn giữ các hiện vật quý bên trong.
Tuy nhiên, người dân nơi đây mong muốn chính quyền các cấp cùng các cơ quan chức năng xem xét mở rộng diện tích đất đai của đình để đáp ứng nhu cầu của nhân dân và du khách trong những dịp lễ hội truyền thống.
- Đánh giá giá trị di tích
Giá trị lịch sử, văn hóa: đình Xuân Hội vốn được khởi dựng vào khoảng thế kỷ XVII. Đến nay, ngôi đình đã gắn bó mật thiết với quá trình phát triển của đời sống dân cư và các phong tục tập quán cổ truyền của một làng Việt cổ. Đình Xuân Hội thờ các vị Thành hoàng là Nhân thần Quảng Phúc Đại pháp sư và hai vị thiên thần là phụ quốc công thần triều Lý. Đây là những người đã có công với dân với nước nói chung cũng như với nhân dân Xuân Hội nói riêng. Việc thờ cúng những người có công với dân, với nước là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Chính vì lẽ đó mà ngôi đình có một vị trí quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của làng xã từ xa xưa, cho hôm nay và cả mai sau.
Giá trị về kiến trúc, nghệ thuật, thẩm mỹ: Đình Xuân Hội được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống. Kết cấu, trang trí kiến trúc và những đồ vật cùng các hoa văn chạm khắc trên các đồ tế tự, thần tích, sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối mang những giá trị nhất định về nghệ thuật và thẩm mỹ thể hiện quan điểm về nghệ thuật và kiến trúc dân gian Việt.
- Phân loại di tích.
Di tích lịch sử.