
Đình Đông Chi Hồ
- Lịch sử hình thành
Về ngôi đình Đông làng Chi Hồ cho tới thời điểm này chưa có tài liệu sử sách ghi chép chính xác thời điểm khởi dựng, tuy nhiên căn cứ vào nội dung các sắc phong được ban cho vị Thành hoàng được thờ ở đình, trong đó sắc sớm nhất có niên đại Cảnh Hưng 28 (1767) thì có thể khẳng định ngôi đình đã được xây dựng trước thời điểm đó. Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), đình bị tiêu thổ kháng chiến. Sau đó trong suốt một thời gian dài nhân dân chưa có điều kiện phục dựng lại đình, đất đình cũng được dùng để xây trường học của xã. Năm 2015 đình được phục dựng lại trên nền xưa đất cũ theo lối kiến trúc truyền thống.
Đình Đông được nhà nước xếp hạng cấp Tỉnh, theo Quyết định số 1479/QĐ-UBND ngày 20/10/2017.
- Cảnh quan môi trường, đất đai.
Đình Chi Hồ hiện nay nằm trên thửa đất số 719, diện tích 6228.4 m2, đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng. Đình có vị trí ngay sát bên đường quốc lộ 38 cũ, mặt đình quay theo hướng Nam. Tổng thể các công trình kiến trúc đồ sộ hoành tráng, tố hảo, khuôn viên đình rộng lớn được xây dựng tường bao bảo vệ.
- Các công trình kiến trúc
Nghi môn: Gồm 1 cổng lớn chính giữa và hai cổng phụ hai bên. Cổng lớn chính giữa được làm theo kiểu hai bên là hai cột trụ lồng đèn, phía trên được đắp trái giành đắp nổi cách điệu hình 4 con chim phượng chụm đuôi vào nhau. Trên thân cột đắp nổi các đôi câu đối bằng chữ Hán. Cổng phụ bên cạnh được tạo thành từ hai cột đồng trụ nhỏ hơn nhưng được cách điệu theo kiểu chồng diêm hai tầng mái với 8 mái đao cong mềm mại, nghệ thuật. Hai cột trụ phía ngoài cùng trên đỉnh đắp đôi nghê sống động trong tư thế quay mặt hướng vào nhau.
Đại đình: Đại đình có kiến trúc kiểu “bình đầu 4 mái đao cong”. Hệ chịu lực làm bằng gỗ lim, gồm 6 bộ vì tạo thành 5 gian 2 chái, 2 dĩ. Mỗi bộ vì có 6 hàng chân cột, kết cấu như sau: 2 bộ vì gian giữa kiểu “thượng chồng rường, hạ ván mê kẻ hiên”. Các bộ vì còn kết cấu kiểu ““thượng chồng rường, hạ chồng rường kẻ hiên”.
Phần mái đình được lợp ngói, giữa bờ nóc đắp hình “lưỡng long chầu nhật”. Mặt trước của đình được làm hệ thống cửa ở 3 gian giữa, 2 chái xây gạch có trổ cửa số tròn hình chữ Thọ.
Hậu cung: Hậu cung song với Đại đình và có phần mái nối với nhau. Hậu cung kết cấu theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái với 8 góc đao cong, gồm 1 gian 2 chái.
- Nhân vật được thờ
Đình Đông Chi Hồ từ xưa đã là nơi tôn nghiêm phụng thờ đức Thành hoàng là “Đại đạo thiên tôn”, lai lịch công trạng của ngài như sau:
Vào triều Lý, phật giáo phát triển mạnh mẽ trờ thành quốc giáo. Triều đình cho xây dựng nhiều chùa chiền, tăng viện khắp nơi. Ở lưng chừng núi Lãm Sơn (còn gọi là núi Dạm), Hoàng thái hậu nguyên phi Ỷ Lan cùng con trai là vua Lý Nhân Tông cho xây dựng 1 đại danh lam với chùa tháp, hành cung gồm nhiều tòa ngang dãy dọc lên tới hàng trăm gian. Kể từ đó hoàng thái hậu, vua và nhiều vương tôn quý tộc thường xuyên theo đường sông từ kinh thành Thăng Long về đây lễ Phật, thăm thú núi sông. Trong một lần vua Lý Nhân Tông đi dạo chơi chùa Lãm Sơn (ngày nay gọi là chùa Dạm), vua cho bày yến tiệc, vãn cảnh đề thơ. Nhà vua lại lệnh cho quần thần đào một con kênh nhỏ nối thẳng từ sông Thiên Đức về tới chân núi Dạm để tiện cho việc thuyền rồng của vua về ngự sông Thiên Đức, vua sẽ dùng thuyền nhỏ theo kênh vào tới tận chân núi (con kênh này tới ngày nay vẫn còn, nhân dân gọi là ngòi Con Tên). Khi vua cùng quần thần đi qua thôn Quảng Lãm, Hán Đà rồi đến làng Cổ Chi (tức làng Chi Nê về sau) bỗng thấy đám mây làm cho trời đất tối mịt mù cả quãng sông Thiên Đức, quan quân không trông thấy nhau. Vua cùng quần thần còn hoang mang chưa rõ tại sao thì bỗng thấy một vị thần mặc áo đen, đầu đội mũ đen đứng trước thuyền rồng đưa cho vua một tấm “như ý thiết kích” và nói rằng nếu sau này nhà vua gặp việc gì khó khăn thì bệ hạ cứ lấy vật đó ra mà cầu, thần sẽ linh phù hiển ứng giúp đỡ. Nhà vua thấy vậy mới hỏi “Tướng công là ai”, thần trả lời “tôi là Đại Đạo Thiên Tôn” nói xong thì biến mất, mây mù cũng tan. Nhà vua biết là thần linh thiêng hiển ứng giúp nước, giúp dân bèn lệnh cho nhân dân Cổ Chi lập đền thờ cúng nghiêm cẩn, muôn đời hương hỏa tôn kính thần.
- Các hiện vật tiêu biểu.
02 ngai thờ
08 hoành phi
22 câu đối
01 kiệu bát cống
01 long đình
01 bộ bát biểu
01 bộ chấp kích
08 hương án
01 chiêng
01 trống
05 đôi hạc thờ gỗ
07 đôi hạc thờ bằng đồng
Các hiện vật có niên đại thế kỷ XXI
Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích
Ngoài ngày hội chính, đình Đông còn các ngày sự lệ khác như sau:
- Ngày 21 tháng 3 làm lễ xuống đồng
- Ngày 1 tháng 4 làm lễ cầu mát
- Ngày 1 tháng 5 làm lễ xuống đồng cấy
- Ngày 1 tháng 8 làm lễ thượng điền
- Ngày 21 tháng 9 làm lễ thường tân
- Ngày 11 tháng 9 làm lễ xuân thu
Theo truyền thống, hội đình được tổ chức vào ngày 6 đến 8 tháng 2 âm lịch. Vào đám, ngày mồng 5 làm lễ mở cửa đình, bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt. Trong ngày mồng 5 làng sửa một lễ chay để làm lễ mộc dục.Sang ngày 6 chính hội, dân làng tổ chức lễ rước, vì các làng thuộc xã Chi Nê cùng thờ chung thành hoàng, các làng thay nhau giữ sắc nên đám rước của các làng xuất phát từ đình của mỗi làng và tập trung tại ngã tư đê sông Đuống. Làng nào năm đó giữ sắc sẽ rước sắc lên tới nơi tập trung rồi trao sắc lại cho làng giữ sắc năm tiếp theo, sau đó các làng lại rước trở lại đình để tế lễ. Đám rước của các làng cùng với các lễ vật, đồ thần khí, tế khí, long đình, kiệu bát cống, cờ biển, tàn lọng với chiêng trống, đội nhạc bát âm cùng dân làng và khách thập phương tham gia tới hàng nghìn người.
Sau phần rước là phần tế lễ. Trong cuốn thần tích thần sắc kê khai năm 1938 đã quy định rõ tham gia vào đội tế, trong làng có 20 người trong hội Tư văn trong đó cắt cử 1 người làm chủ tế, 1 người làm đọc chúc văn, 2 người bồi tế, 2 người xướng tế, còn lại 14 người dâng hương và dẫn rượu. Những người tham gia tế lễ phải tắm gội sạch sẽ, quần áo chỉnh tề, kiêng ăn hành, tỏi, mắm tôm, thịt chó, cá mè. Lúc tế lễ thì chủ tế phải bận áo thụng màu lam, trước mặt và sau lưng thêu con công, đầu đội mũ, chân đia hia, tay cầm hốt, còn người bồi tế cùng các quan viên tế đầu đội mũ, đia hia vận áo thụng xanh. Về lễ vật tế thì dùng giầu, rượu, xôi, gà, lợn, phẩm oản…Sau khi tế xong các đồ lễ được phân phát cho cả đồng dân. Lễ tế của dân làng kéo dài từ ngày mồng 6 đến hết ngày mồng 8 thì tổ chức lễ tạ và kết thúc hội.
Bên cạnh nghi thức tế lễ là phần hội với nhiều tục trò chơi dân gian đặc sắc như: đu, vật, kéo co, đánh cờ…cùng với các hình thức diễn xướng dân gian như hát chèo, quan họ…đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân địa phương hướng về cội nguồn, đoàn kết cộng đồng làng xã, tham gia vào những sinh hoạt văn hóa văn nghệ vui tươi lành mạnh, mang đậm bản sắc dân tộc.
Làng Chi Hồ có tục kết chạ với làng Hán Đà, trong những ngày tế lễ và mở hội, hai làng vẫn thường giữ tình giao hảo mời nhau cùng tham dự lễ hội.
- Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích
Đình Đông từ xưa tới nay vẫn luôn được chính quyền và nhân dân địa phương bảo vệ gìn giữ. Di tích mới được xếp hạng nên đã thành lập Ban quản lý di tích địa phương theo quy định. Đất đai của di tích đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng, xây tường bao bảo vệ.
Trong công tác trùng tu tôn tạo di tích được nhân dân địa phương quan tâm thực hiện rất tốt, đình vẫn đang được nhân dân tiếp tục đầu tư tôn tạo thêm các công trình phụ trợ khác.
Để trực tiếp quản lý di tích nhân dân bầu ra Ban khánh tiết duy trì các hoạt động thường xuyên của di tích và cử ra cụ từ hàng ngày trông coi, đèn nhang phụng thờ thánh và chăm sóc cảnh quan, vệ sinh môi trường cho di tích.
Các hoạt động tâm linh tín ngưỡng ở di tích được tổ chức tốt, đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương.
- Đánh giá giá trị di tích
Giá trị về lịch sử, văn hóa: Đình Đông trải qua lịch sử đến nay vẫn luôn là nơi bảo tồn văn hóa truyền thống, thể hiện truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta từ bao đời nay.
Từ xưa đến nay đình luôn là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân. Những ngày lễ hội của đình diễn ra hàng năm đã thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân địa phương hướng về cuội nguồn, là dịp tốt để giáo dục truyền thống tốt đẹp cho thế hệ trẻ.
Giá trị về kiến trúc, nghệ thuật, thẩm mỹ:
Đình Đông được phục dựng lại với quy mô kiến trúc hoành tráng bằng chất liệu gỗ quý, chạm khắc tinh xảo nghệ thuật, là một công trình đẹp hiếm có trong vùng.
- Phân loại di tích
Thuộc loại hình Di tích lịch sử.