
Đình An Động
- Lịch sử hình thành
Đình làng An Động vốn được khởi dựng từ lâu đời, nhưng do lâu năm bị hư hại, đến thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII) được trùng tu mở rộng với quy mô lớn. Đó là tòa đại đình to lớn, chữ Đinh gồm 5 gian tiền tế, 3 gian hậu cung với các lớp mái đao cong uốn lượn; bộ khung gỗ, các bộ phận vì nóc, cửa võng, con rường, cốn bẩy, đầu dư đều được chạm khắc “tứ linh, tứ quý” lộng lẫy. Nhưng tiếc thay, ngôi đình cổ đó bị phá trong tiêu thổ kháng chiến chống Pháp. Hòa bình lập lại, dân làng dựng tạm mấy gian nhà nhỏ để thờ phụng Thành hoàng làng. Đến năm 1995, dân làng lại cùng nhau công đức tiền của để phục dựng lại tòa đại đình năm xưa. Năm 2025 đình được xây dựng lại với dáng vẻ như hiện nay
Đình làng An Động được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh, theo Quyết định số 1489/QĐ-UBND ngày 05/10/2009.
- Cảnh quan môi trường, đất đai.
Hiện nay đình làng An Động nằm trên thửa đất có diện tích 2071m2, đình đã có giấy chứng nhận sử dụng đất, có tường bao quanh. Đình nằm ở vị trí phía Nam của làng, quay hướng Nam, trước và bên phải phía Đông là hai hồ nước lớn của đình, tạo cảnh quan đẹp. Phía Tây giáp chợ làng.
- Các công trình kiến trúc
Đình An Động có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Đinh, gồm đại đình 5 gian 2 chái với 4 mái đao cong, hậu cung 3 gian; bộ khung được làm gỗ với quy mô khá lớn chạm khắc trang trí tinh xảo; phần hoành được làm bằng gỗ và lợp ngói mũi với các lớp mái đao cong. Tiền tế có vì nóc kiểu “cột trụ giá chiêng”, vì nách kiểu kẻ ngồi. Trên các bộ phận như con rường, đầu dư, cốn, bẩy đều được đắp nổi “tứ linh, tứ quý” và hoa lá cách điệu. Cửa đình được mở ở tiền tế 5 gian phía trước, hướng Tây Nam.
Hậu cung là nơi tôn nghiêm thờ thành hoàng làng, được đặt một án thờ lớn, trên đặt 5 ngai thờ và bài vị của thánh. Hậu cung luôn được đóng kín bởi hệ thống cửa bức bàn, chỉ mở 2 cửa ngách vào những ngày đình đám hay sự lệ sóc vọng.
- Nhân vật được thờ
Căn cứ vào thần tích, sắc phong của đình An Động được kê năm 1938 thì nơi đây thờ các vị thành hoàng làng là: Đức đệ nhất Hùng Vương “Ngật Đột đại vương”, Đức đệ nhị là Tản Viên Sơn Tinh “Hiển Huệ đại vương”, Đức đệ tam là “Quý Minh đại vương”, đức đệ tứ là “Đống Vang đại vương”, đức đệ ngũ là “Hưng Phúc đại vương”.
Về Đức đệ nhất Hùng Vương “Ngật Đột đại vương”
Hùng Vương thứ nhất là con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ, lên ngôi vua đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc – Phú Thọ) và chia nước làm 15 bộ. Các đời Vua sau đều gọi là Hùng Vương và có 18 đời Hùng Vương. Các vua Hùng đặt các tướng văn là Lạc Hầu, tướng võ là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, quan nhỏ gọi là Bố Chính. Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng là nhà nước đầu tiên của dân tộc ta. Mặc dù nhà nước đầu tiên này còn phôi thai nhưng đã cố kết được các cộng đồng dân tộc để chinh phục thiên nhiên và đánh giặc bảo vệ non sông đất nước. Thời đại Hùng Vương được ghi lại trong sử sách và dân ca truyền tụng.
Về Đức đệ nhị (Tản Viên Sơn Tinh):
Ngài sinh ngày 10 tháng Giêng năm Nhâm Thìn. Ngài là người đất Lăng Sơn, cha không rõ, mẹ là người họ Phạm bị rồng quấn nên sinh ra ngài. Khi sinh ra, ngài đã có tướng mạo khác thường, bụng có chữ vương, tay dài quá gối, gầm bàn chân có 5 sợi lông. Ngài là người thông minh lại rất có hiếu với mẹ. Nhà nghèo, ngài thường vào núi Tản Viên kiếm củi bán để nuôi mẹ. Tấm lòng hiếu thảo của ngài đã cảm dộng đến trời đất. Ngọc Hoàng sai một ông tiên xuống cho ngài một cái gậy đỏ có phép cải tử hoàn sinh và một quyển sách ước để cứu độ chúng sinh. Ngài lấy con gái Hùng Vương và có công giúp nước. Ngài hóa và hiển thánh ngày 10 tháng 9. Ngài hiển linh phù Vua Lê Thánh Tông và được phong là: “Đại đô thành hoàng thiên hạ Quý Minh thánh vương tôn thần thượng đẳng”.
Sự tích Đức Đệ Tam, Đệ Tứ, Đệ Ngũ như sau: Cha các ngài là họ Cao húy là Nguyên, mẹ là họ Thầm. Vốn là nhà Lệnh trưởng ở đất Bảo Sơn (Quảng Đông – Trung Quốc). Làm nghề buôn bán trên thuyền. Một hôm, mẹ ra bến sông tắm bị một con rồng quấn, ba tháng sau cảm động có thai sinh ra ngài. Hai năm sau, mẹ ngài lại sinh ra hai người em trai nữa. Ba anh em đều có tướng mạo khác thường, lớn lên đều là những người thông minh, ham học, giỏi cả văn lẫn võ. Khi ấy, bên Trung Quốc có loạn, cả 3 anh em lánh nạn sang nước ta ở châu Thanh Hoa, phủ Thuận Thiên huyện Lương Giang. Khi ấy Vua Lý Thái Tông nghe tiếng tăm các ngài giỏi văn võ, liền cho người mời vào triều đình phong chức tước và cử đi đánh giặc Chiêm Thành. Đất nước bình yên, ba ngài được cử đi tuần ở trấn Kinh Bắc. Khi ngài đệ Tam và đệ Ngũ về triều qua trấn Hải Dương tại núi Ngọc Trúc tự nhiên hóa ở đấy. Còn ngài đệ Tứ khi tiến quân qua núi Quy Sơn trang Nga Mạc, huyện Quế Dương tự nhiên hóa ở đấy. Nhân dân địa phương sợ hãi làm biểu tấu vua, vua Lý Thái Tông sai sứ thần mang sắc chỉ về phong cho ba ngài làm thần và lệnh cho nhân dân địa phương lập đền thờ phụng mãi mãi.
Như vậy, theo sắc phong, thần tích thì đình An Động thờ những người có công với dân với nước. Việc phụng thờ và tôn vinh những người có công với dân với nước là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta.
- Các hiện vật tiêu biểu.
01 hương án bằng gỗ thời Nguyễn
01 đài rượu bằng gỗ thời Nguyễn
01 kiển đồng thời Nguyễn
01 thanh la bằng gỗ thời Nguyễn
01 bát hương đồng thời Nguyễn
01 đài nước đồng thời Nguyễn
01 bát sành thời Nguyễn
01 chóe sành thời Nguyễn
01 hộp sắc phong gỗ thời Nguyễn
06 hoành phi gỗ TK XX
07 câu đối gỗ TK XX.
- Di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích
Lễ hội truyền thống: 10 tháng 2
Lễ tế thần nông: 18 tháng 7
Lễ tế giao thừa và năm mới: 30 tháng Chạp và mồng một Tết.
Theo tục lệ, hàng năm cứ đến ngày 10 tháng 2 âm lịch, đình làng An Động lại được mở hội. Ngay từ ngày 8, đình làng An Động đã được mở cửa để bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt. Xưa để lo việc đình đám, làng đã bầu chọn các ông quan đám, các ông quan viên tế và phân việc cho 4 giáp (Đông thượng, Tây thượng, Đông giáp, Tây giáp) nuôi lợn tế thần. Lễ vật tế thần là lợn luộc chín cả con, cùng trâu, rượu, hương hoa. Ngày 9, làng tổ chức rước thần từ nghè về đình để tế lễ. Ngày 10 chính hội, các giáp rước lợn tế ra đình để tế thánh, đến ngày 13 thì tế giã đám. Theo tục lệ, các làng chạ như: Hộ Vệ, Xuân Hội, Nga Hoàng, Hán Quảng đến tham dự đông đủ. Trong những ngày lễ hội, sau phần tế lễ là phần hội với nhiều tục trò dân gian vui chơi, giải trí như: đu, vật, chọi gà, bắt vịt, thổi cơm thi… thu hút đông đảo nhân dân địa phương vào những dịp sinh hoạt văn hóa văn nghệ vui tươi lành mạnh.
- Công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích
Đình An Động từ xưa tới nay vẫn luôn được chính quyền và nhân dân địa phương bảo vệ gìn giữ. Di tích đã xếp hạng nên đã thành lập Ban quản lý di tích địa phương theo quy định. Đất đai của di tích đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng và di tích đã được xây tường bao bảo vệ.
Hàng ngày luôn có người trông nom bảo vệ và sớm tối hương khói phụng thờ Thánh. Lễ hội được chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức tốt. Những ngày sóc vọng dân làng thành tâm đến hương khói lễ thánh cầu may và sống hướng thiện.
Song do nguồn kinh phí tại đình còn eo hẹp nên một số hạng mục trong đình đã bị hư hại chưa được tu sửa, đặc biệt là nền đình bị ẩm thấp, đọng nước khi trời mưa. Nhân dân địa phương rất mong chính quyền và các cơ quan chức năng quan tâm giúp đỡ để ngôi đình làng được tu sửa vững chắc, khang trang hơn.
- Đánh giá giá trị di tích
Giá trị về lịch sử, văn hóa: Đình An Động là công trình văn hóa tín ngưỡng gắn liền với bề dày lịch sử và văn hóa của cộng đồng làng xã nơi đây. Ngôi đình vốn được xây dựng từ lâu đời để thờ phụng thành hoàng làng, là những vị có công lao với dân, với nước. Đình từ lâu đã là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân. Những ngày lễ hội của đình diễn ra hàng năm đã thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân địa phương hướng về cuội nguồn, là dịp tốt để giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn những người có công với dân với nước, giáo dục thuần phong mỹ tục của nhân dân địa phương.
Giá trị về kiến trúc, nghệ thuật, thẩm mỹ: Đình An Động được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống, còn lưu giữ được các kiến trúc cổ. Các hoạ tiết trang trí trên kiến trúc cũng như các hiện vật còn lưu giữ được tại đây chứa đựng những giá trị về nghệ thuật điêu khắc, mỹ thuật trang trí, quan điểm thẩm mỹ của nghệ thuật dân gian và kiến trúc truyền thống của nhân dân.
- Phân loại di tích
Thuộc loại hình Di tích lịch sử.